Thứ ba, 27.12.2016 GMT+7

Định type HPV


HPV là gì ?

          HPV (Human Papillomavirus) là loại siêu vi lây lan qua đường tình dục phổ biến và là nguyên nhân gây nên 99% trường hợp mắc ung thư cổ tử cung. HPV cũng có thể gây một số các bệnh ung thư ít phổ biến hơn như ung thư vòng họng, ung thư âm đạo, âm hộ ở phụ nữ, dương vật ở nam giới và mụn cóc ở bộ phận sinh dục.

          HPV thâm nhập vào bên trong tế bào cổ tử cung, phát triển và làm biến đổi gene của tế bào. Các tế bào bị đột biến sẽ phát triển thành các tế bào ác tính. Quá trình này phải mất nhiều năm, có thể từ 10 đến 15 năm. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn tiền lâm sàng, khi đó đã có bất thường về mức độ tế bào nhưng khi thăm khám thì cổ tử cung có thể hoàn toàn bình thường. Khi đã sang giai đoạn ung thư, bướu sẽ lan rộng nhanh chóng trong thời gian ngắn.

          Qua nghiên cứu hệ gene đã xác định có trên 100 tuýp HPV được chia thành 2 nhóm chính:

          Tuýp HPV độc tính thấp. Phổ biến nhất là các tuýp HPV-6, 11, 34, 40, 42ít khi gây loạn sản, ung thư cổ tử cung,là nguyên nhân gây 90% chứng mụn cóc (sùi mào gà) ở bộ phận sinh dục.

          Tuýp HPV độc tính cao. Phổ biến nhất là các tuýp HPV-16, 18, 33, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68, là nguyên nhân gây 96% trường hợp mắc ung thư cổ tử cung. Trong các type này, HPV-16 và HPV-18 là 2 loại có khả năng sinh ung cao nhất (chiếm trên 70%), các tuýp còn lại cũng có nguy cơ sinh ung thư nhưng với mức độ tổn thương nhẹ hơn chẳng hạn như loạn sản.

          Khoảng 70% dân số thế giới bị nhiễm virus HPV ít nhất một lần trong đời

Bạn biết gì về ung thư cổ tử cung ?

          Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ ở tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, theo điều tra của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), trung bình cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung. Hàng năm có khoảng 530.232 trường hợp mắc mới ung thu cổ tử cung được chẩn đoán và khoảng 275.008 trường hợp bị tử vong. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung đứng thứ 2 về mức độ phổ biến đối với phụ nữ và đứng đầu về tỷ lệ lây nhiễm đối với phụ nữ trong độ tuổi 15 - 44. Theo ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh ung thư cổ tử cung và 11 trường hợp tử vong. Hàng năm có khoảng trên 5.000 trường hợp mắc mới và trên 2.000 trường hợp tử vong do ung thu cổ tử cung.

          Ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Quá trình tiến triển bệnh còn phụ thuộc vào tình trạng hệ miễn dịch và các yếu tố nguy cơ phối hợp. 80% các trường hợp bị nhiễm trùng thoáng qua, không có triệu chứng và tự khỏi mà không cần điều trị sau khoảng 6 tháng.

          Tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư cổ tử cung có xu hướng giảm dần ở các nước phát triển nhờ được phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời. Trong khi đó, tỷ lệ này lại có xu hướng gia tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, do số phụ nữ khám phụ khoa định kỳ còn thấp, chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh còn hạn chế,…

Làm sao để sàng lọc tiền ung thư cổ tử cung ?

Xét nghiệm Pap Smear

          Xét nghiệm Pap smear là xét nghiệm các tế bào bong ra từ cổ tử cung để phát hiện sớm các tế bào bất thường. Các tế bào bất thường càng dễ bong hơn các tế bào bình thường và bị biến đổi thành các dạng tế bào đa nhân, tế bào đa nhân khổng lồ hoặc nhân teo lại hoặc tế bào có vòng sáng quanh nhân…Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy với phương pháp này hơn 80% các tế bào bị loại bỏ sau khi phết lên slide, chính vì vậy sẽ tăng tỉ lệ bỏ sót các tế bào bất thường.

Xét nghiệm ThinPrep

          Phương pháp Liquid-based cytology (LBC) dựa trên nguyên lý lọc rửa tế bào cổ tử cung khỏi tế bào bạch cầu, hồng cầu, dịch nhầy trong mẫu bệnh phẩm và dàn tế bào phân bố đồng đều chỉ trên một lớp nên việc đọc tế bào sẽ chính xác hơn đáng kể. Tại Hoa Kỳ, 90% các chuyên gia sử dụng phương pháp LBC trong xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung. Tại Anh Quốc, LBC được sử dụng thường qui trong tầm soát ung thư cổ tử cung. Có nhiều cách thức thực hiện phương pháp LBC, trong đó ThinPrep thể hiện tính ưu việt vượt trội. ThinPrep đã được Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt cho sử dụng trên lâm sàng về tính hiệu quả cao đáng kể. ThinPrep có nhiều ưu điểm vượt trội như làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong việc phát hiện các tế bào tiền ung thư, đặc biệt là ung thư tế bào biểu mô tuyến CTC, một loại ung thư CTC rất khó phát hiện và có tỷ lệ tử vong cao.

Xét nghiệm HPV – PCR

          Xét nghiệm HPV –PCR cho biết có nhiễm HPV hay không, nếu có là nhóm nào, nguy cơ cao hay nguy cơ thấp. PCR được dùng để định type HPV bằng bệnh phẩm lấy từ âm đạo - cổ tử cung hoặc mảnh sinh thiết cổ tử cung. Kết quả HPV- PCR dương tính cho biết người bệnh đang trong tình trạng nhiễm HPV, không biết được tình trạng mô học hay tế bào học cổ tử cung. Xét nghiệm HPV – PCR được khuyến cáo kèm với xét nghiệm Pap’smear nhằm nâng cao hiệu quả sàng lọc tiền ung thư cổ tử cung.

Xét nghiệm HPV – DNA

          Các kỹ thuật sinh học phân tử phát hiện HPV- DNA được chia thành hai nhóm: khuếch đại và không khuếch đại. Test dùng trong nghiên cứu lâm sàng thường là test khuếch đại, được chia thành 2 nhóm nhỏ là khuếch đại tín hiệu và khuếch đại chính bộ gene của HPV. Các test đại biểu cho nhóm test khuếch đại là Hybrid Capture II (HCII, Qiagen, USA), cobas HPV test (Roche, Thụy Sĩ).

Hybrid Capture II

          Hybrid Capture IIlà phản ứng lai đi kèm với khuếch đại tín hiệu, sử dụng 2 hỗn hợp mồi ARN để phát hiện và phân biệt nhiễm bất kỳ tuýp nào trong số 13 tuýp nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59 và 68) với 5 tuýp nguy cơ thấp (6, 11, 42, 43, 44). Tuy nhiên, phương pháp này thường không xác định được chính xác các tuýp HPV.

Cobas HPV Test

          Cobas HPV Test khuếch đại ADN đích bằng phản ứng PCR và lai acid nucleic để phát hiện và xác định hai type HPV 16 và 18, đồng thời xác định có nhiễm ít nhất một trong 12 type HPV nguy cơ cao còn lại (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, and 68) trong một lần chạy duy nhất trên một bệnh phẩm.

CHEMEDIC với sàng lọc tiền ung thư cổ tử cung

          CHEMEDIC sử dụng công nghệ BMT 9G DNA cho phép xác định đồng thời 19 tuýp HPV (14 type độc tính cao và 5 type độc tính thấp) nhưng vẫn có thể rút ngắn được thời gian và tính độ chính xác, độ đặc hiệu, độ nhạy của phương pháp xác định vẫn rất cao. Công nghệ này sử dụng kỹ thuật PCR để khuếch đại các đoạn gene của hệ gene ở các type HPV. Sau đó, lai hóa trên bề mặt chíp để xác định nhanh các chuỗi gene đặc trưng của các tuýp khác nhau.

 

Đường dẫn của bản tin này: ./index.php?f=news&do=detail&id=68
© Chemedic VietnamEmail: hoatk@wru.vn